Đề xuất đánh thuế tài sản và nhà ở

Tính thuế tiêu chuẩn giá đất do UBND cấp tỉnh thông báo

Căn cứ tính thuế của nả được công ty soạn thảo đưa ra là giá tính thuế và thuế suất. Trong đó: Giá tính thuế đối với đất được xác định bằng diện tích đất tính thuế nhân với giá 1m2 đất tính thuế.

Giá 1m2 đất tính thuế cũng được Bộ Tài chính đưa ra hai phương án gồm: Phương án 1- Giá 1m2 đất tính thuế là giá 1m2 đất tại Bảng giá đất do UBND cấp tỉnh thông báo tại thời điểm tính thuế;

Phương án 2-Giá 1m2 đất tính thuế được xác định theo giá thị phần tại thời điểm tính thuế.

Phương án 1 có nhiều điểm cộng như: Đơn giản, khả thi, thuận lợi cho người nộp thuế trong việc kê khai thuế; thuận lợi cho cơ quan cơ quan thuế trong việc xác định giá tính thuế do giá của 1m2 đất tính thuế được lấy theo giá đất tại Bảng giá đất do UBND cấp tỉnh thông báo nên đã có, Bộ Tài chính buộc phải thực hành phương án 1.

Nhà 700 triệu đồng trở lên phải chịu thuế

Theo ông Phạm Đình Thi, có hai cách xác định ngưỡng không chịu thuế để đánh thuế là xác định ngưỡng không chịu thuế theo trị giá hoặc xác định ngưỡng không chịu thuế theo diện tích. Cơ quan soạn thảo buộc phải lấy ngưỡng không chịu thuế theo trị giá để đánh thuế của nả đối với nhà do việc ứng dụng ngưỡng không chịu thuế theo trị giá nhằm đảm bảo chỉ tiêu của thuế của nả, không điều tiết đối với nhà có trị giá dưới ngưỡng không chịu thuế, điều tiết cao đối với nhà có trị giá lớn, đảm bảo công bằng xã hội. Đồng thời, việc ứng dụng ngưỡng không chịu thuế theo trị giá sẽ phân biệt được các loại nhà khác nhau (đơn giá vun đắp mới 1m2 nhà vi la, bất động sản cấp I cao hơn rất nhiều đơn giá vun đắp mới 1m2 bất động sản cấp III, cấp IV).

Đối với việc xác định trị giá ngưỡng không chịu thuế đối với nhà: Bộ Tài chính vun đắp phương án thuế suất thuế của nả đối với nhà thuộc đối tượng chịu thuế theo hai phương án là lấy ngưỡng không chịu thuế là 700 triệu đồng hoặc lấy ngưỡng không chịu thuế là 1 tỷ đồng.

Trên cơ sở vật chất kinh nghiệm quốc tế và thực tại ở Việt Nam, cơ quan soạn thảo buộc phải hai phương án thuế suất thuế của nả gồm: ứng dụng mức thuế suất thuế của nả chung là 0,3%; hoặc ứng dụng mức thuế suất thuế của nả chung là 0,4%.

Theo tính toán của cơ quan soạn thảo, các phương án đưa ra có những điểm cộng khăng khăng đó là: với ngưỡng không chịu thuế đối với nhà thuộc đối tượng chịu thuế là 1 tỷ đồng (tính theo suất vốn đầu tư vun đắp) thì không điều tiết đối với những người sở hữu nhà có trị giá không lớn, có thu nhập phải chăng và làng nhàng, không điều tiết đối với nhà đơn sơ, nhà thiếu cứng cáp, nhà cấp IV, không điều tiết đối với gần như nhà tại nông thôn, nhà cấp III.

Với ngưỡng không chịu thuế đối với nhà thuộc đối tượng chịu thuế là 700 triệu đồng (tính theo suất vốn đầu tư vun đắp), phương án này không điều tiết đối với những người sở hữu nhà có trị giá không lớn, có thu nhập phải chăng, không điều tiết đối với nhà đơn sơ, nhà thiếu cứng cáp, nhà cấp IV, không điều tiết đối với gần như nhà tại nông thôn, nhà cấp III (phạm vi điều tiết đối với nhà tại nông thôn và nhà cấp III sẽ nhiều hơn phương án lấy ngưỡng không chịu thuế là 1 tỷ đồng).

Việc quy định mức thuế suất cao đối với đất dùng không đúng mục đích; đất và nhà thuộc đối tượng chịu thuế không đưa vào dùng; đất và nhà thuộc đối tượng chịu thuế lấn, chiếm sẽ góp phần tránh hiện trạng đầu tư về đất, dùng đất phung phí, chiếm dụng đất công.

Tạo tính chủ động cho chính quyền địa phương trong việc quy định mức thuế suất thuế của nả thích hợp với điều kiện thực tại của địa phương.

Bộ Tài chính dự định số thu thuế của nả đối với phương án 1 là khoảng 22.700 tỷ đồng (nếu ứng dụng ngưỡng không chịu thuế đối với nhà là 1 tỷ đồng) hoặc khoảng 23.300 (nếu ứng dụng ngưỡng không chịu thuế đối với nhà là 700 triệu đồng); đối với phương án 2 là khoảng 30.300 tỷ đồng (nếu ứng dụng ngưỡng không chịu thuế đối với nhà là 1 tỷ đồng) hoặc khoảng 31.000 tỷ đồng (nếu ứng dụng ngưỡng không chịu thuế đối với nhà là 700 triệu đồng).

Để thích hợp với quy định mức thuế suất thuế của nả của các nước, khai thác tốt nguồn thu từ thuế của nả, đảm bảo thuế của nả là nguồn thu ổn định của ngân sách nhà nước, thực hành chỉ tiêu cơ cấu lại thu NSNN, theo Nghị quyết số 07-NQ/TW và Nghị quyết số 25/2016/QH14, buộc phải thực hành theo phương án 2 và ứng dụng ngưỡng không chịu thuế đối với nhà là 700 triệu đồng.

Thuế của nả là 1 loại thuế có mặt trên thị phần sớm trong bộ máy thuế của tất cả các đất nước trên toàn cầu, đặc thù là ở các đất nước có nền kinh tế thị phần lớn mạnh. Hiện có 174/193 nước thực hành thu thuế của nả (thuế thu hằng năm, trong thời kỳ dùng của nả) với nhiều tên gọi khác nhau. Các nước dùng thuế của nả như 1 công cụ vốn đầu tư hữu hiệu để tăng cường chủa quản việc dùng của nả của công ty, tư nhân, đồng thời có thêm nguồn lực đầu tư quay lại đất đai, điều tiết 1 phần thu nhập của công ty, tư nhân có nhiều của nả nhà, đất; góp phần đảm bảo công bằng xã hội.

Thuế của nả ở các nước biểu đạt vai trò cần thiết trong tổng thu ngân sách của các đất nước, chiếm tỷ lệ làng nhàng 3-4% so với tổng thu thuế ở các nước lớn mạnh, 1 số nước tỷ lệ này lên đến 8% như Nhật Bản. Ở các nước đang lớn mạnh và chuyển đổi, tỷ lệ này phải chăng hơn. Xét trong thời kỳ 2005-2013, tỷ lệ thu thuế của nả so với GDP ở các nước lớn mạnh và 1 số nước đang lớn mạnh ở địa bàn Châu Á là khoảng 2%/GDP.

Ở Việt Nam, qua thẩm định cho thấy, thuế thu trong thời kỳ dùng của nả (thuế dùng đất phi nông nghiệp, thuế dùng đất nông nghiệp) chỉ chiếm khoảng 0,036% GDP và mới chỉ điều tiết đối với đất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *