Cơ hội mở cho nông sản Việt vào Australia

Dù việc xuất khẩu (XK) nông phẩm vào Australia không được kỳ vọng sẽ mang lại kim ngạch quá cao nhưng với việc chinh phục được thị phần có đề nghị vào loại cao nhất toàn cầu, nông phẩm Việt nghiễm nhiên có 1 tấm “giấy thông hành” vào nhiều thị phần hơic.

“Giấy thông hành” cho nông phẩm Việt

Liên tục trong ba năm mới đây, hàng loạt các loại trái cây tươi của Việt Nam đã được thị phần Australia mở cửa như vải, xoài, thanh long. Bên cạnh đó, Australia cũng du nhập (NK) hơi nhiều các loại nông phẩm hơic của nước ta như gạo, thủy sản… Nhận định về thời cơ của nông phẩm Việt tại thị phần Australia, bà Nguyễn Hoàng Thúy – Phó Tổng lãnh sự Việt Nam tại Sydney, Trưởng cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Australia cho biết, ta phải mất tới 12 năm thương lượng để mở cửa được trái cây tươi ban sơ của Việt Nam sang Australia là trái vải (được Australia cấp phép NK năm 2015). Mặc dù lượng XK hoa quả tươi của tôi và quý hơich sang Australia không nhiều nhưng mở cửa được các hàng hóa này lại mang 1 ý nghĩa khôn xiết to lớn.

Lý do bởi thứ nhất, Australia là 1 trong những nước có quy định ngặt nghèo nhất toàn cầu về an toàn sinh vật học và khiến cho mới an toàn thực phẩm. Việc Australia mở cửa cho hàng nông phẩm của tôi và quý hơich sẽ khẳng định có bảo hành lâu dài hàng Việt Nam, giúp việc thương lượng mở cửa các hàng hóa tương tự ở các nước hơic thuận lợi hơn.

Thứ hai, giả thiết muốn XK sang thị phần Australia cũng như các thị phần khắt khe hơic, bà con dân cày và các công ty (DN) buộc phải phải đổi thay cách khiến cho, sản xuất theo đúng quy trình, quy chuẩn, dần dần sẽ tạo ra thương hiệu cho hàng nông phẩm của Việt Nam.

Ngoài ra, việc mở mang thị phần XK sẽ giúp nhiều hình thức hóa thị phần cho hàng nông phẩm của Việt Nam, giúp dân cày hạn chế trạng thái “được mùa mất giá”. Thí dụ, năm 2015, việc mở được nhiều thị phần XK mới, đồng thời với việc đưa trái vải Nam tiến đã giúp giá vải bình quân tăng 3.000 đồng/kg. Với sản lượng khoảng gần 200 ngàn tấn/năm, trị giá thu được từ trái vải chẳng hề nhỏ.

Bên cạnh đó, bà Nguyễn Hoàng Thúy cũng nguồn tin, bây giờ, Tập đoàn SunRice – tập đoàn buôn bán gạo lớn nhất nước Australia đang thu mua khoảng 50% tổng sản lượng gạo Japonica XK của Việt Nam. Tập đoàn này cũng đang có ý định đầu tư cung cấp gạo tại Việt Nam. Đây là tin vui đối với ngành nghề gạo Việt Nam trong bối cảnh XK còn nhiều cạnh tranh.

“SunRice là DN thực phẩm toàn cầu và dẫn đầu về thương hiệu thực phẩm XK tại Australia. Thời gian tới, SunRice dự định đầu tư từ 100-200 triệu USD vào vùng nguyên liệu cũng như nghiên cứu và vững mạnh các giống gạo, cải tiến khoa học, đầu tư vào xay xát, chế biến và cung cấp các hàng hóa trị giá gia tăng có duyên cớ từ gạo. Việc đầu tư của SunRice sẽ giúp cho tôi và quý hơich tiếp cận được với cách khiến cho nông nghiệp đương đại. Đồng thời, gạo căn do từ Việt Nam, mang thương hiệu SunRice sẽ được tiêu thụ ở phân khúc gạo và các hàng hóa từ gạo sang trọng ở các thị phần của SunRice trên toàn cầu, không chỉ tại Australia”, bà Thúy nhấn mạnh.

Tận dụng thời cơ

Bà Nguyễn Hoàng Thúy cũng cho biết, Australia là 1 thị phần có tiềm năng. Dân số tuy nhỏ, chỉ có 24 triệu dân nhưng kim ngạch xuất du nhập (XNK) đạt hơn 600 tỷ USD. Quy mô thương nghiệp giữa Việt Nam và Australia trong 10 năm mới đây tăng gấp đôi từ khoảng ba tỷ lên hơn sáu tỷ USD. 10 năm mới đây, kim ngạch thương nghiệp hai chiều tăng trưởng bình quân gần 10%/năm, trong đó năm 2017 tăng 22,1%. Tuy quy mô thương nghiệp gia tăng tương tự nhưng kim ngạch XNK vẫn chiếm tỷ trọng quá nhỏ so với tổng kim ngạch XK hàng hoá của Việt Nam và tổng kim ngạch NK của Australia.

Nguyên nhân chính của trạng thái này là do chính sách thương nghiệp và thuế của Australia hơi sáng tỏ, nhưng các quy định về có bảo hành lâu dài, an toàn khiến cho mới thực phẩm, căn cứ hàng hóa… hơi chặt chẽ. Nhiều DN Việt Nam chưa nắm được, hoặc chưa cập nhật các quy định du nhập hàng hóa và quy định về kiểm dịch đối với hàng NK của Australia. Chỉ riêng trong năm 2017 đã có 39 trường hợp hàng Việt Nam vi phạm quy định về khiến cho mới an toàn thực phẩm của Australia.

Bên cạnh đó, dù rằng Hiệp định Thương mại Tự do giữa ASEAN – Australia – New Zealand (AANZFTA) đã có hiệu lực từ năm 2010 nhưng DN Việt Nam vẫn còn hơi lúng túng trong việc tìm hiểu, vận dụng nội dung Hiệp định, các xin hứa, ưu đãi mà hàng Việt Nam được hưởng. Ngoài ra, thương hiệu cho hàng XK của Việt Nam vẫn chưa được các DN quan tâm, đầu tư và vững mạnh. Thực tế cho thấy, phần đông những hàng hóa nông, thủy sản của Việt Nam được XK vẫn chỉ ở dạng xuất thô. XK nguyên liệu, hàng hóa đã qua chế biến thì phần đông lại mang tên của đối tác nước ngoài mà xuất xứ là việc vun đắp thương hiệu cho hàng Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, người dùng Australia chỉ biết 1 số ít thương hiệu hàng XK Việt Nam.

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vừa được giao kèo ngày 8-3-2018 hứa sẽ mang lại nhiều lợi ích cho DN hai bên do Việt Nam và Australia đều nằm trong chuỗi trị giá của địa bàn châu Á – Thái Bình Dương gồm 11 nước nên sẽ thúc đẩy các hoạt động đầu tư, cung cấp trong chuỗi trị giá này, từ đó thúc đẩy thương nghiệp song phương. Bên cạnh đó, các quy định về sáng tỏ hóa, thuận lợi hóa thương nghiệp (như tự chứng thực căn do), thương chính cũng sẽ tạo thuận lợi, giúp thúc đẩy thương nghiệp song phương Việt Nam – Australia. Ngoài ra, các quy định chặt chẽ về đầu tư cũng sẽ giúp lôi kéo, tăng đầu tư từ Australia vào Việt Nam, từ đó thúc đẩy quan hệ thương nghiệp hai bên.

Tận dụng tối đa thời cơ này, bà Thúy cho rằng, thứ nhất, DN Việt Nam cần hăng hái, chủ động hơn trong việc tìm hiểu nguồn tin về thị phần Australia và những ưu đãi mà hàng XK Việt Nam được hưởng trong Hiệp định AANZFTA.

Thứ hai, nhiều hình thức hoá và tăng tiến có bảo hành lâu dài hàng XK nhằm tăng kỹ năng cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị phần Australia. “Nếu muốn trụ vững trên thị phần Australia, các DN Việt Nam phải hướng đến 1 nền cung cấp sạch hơn, ở đó có bảo hành lâu dài hàng hóa luôn là vấn đề đặt lên bậc nhất chứ không phải là sản lượng và mức giá thấp”, bà Thúy nhấn mạnh.

Thứ ba, vun đắp chỉ tiêu buôn bán dài hạn. DN cần tuyển chọn chỉ tiêu hàng hóa và chỉ tiêu xâm nhập thị phần Australia thích hợp với nhu cầu, diễn biến thực tại của thị phần và kỹ năng của DN. Không nên xâm nhập thị phần 1 cách vội vàng mà cần có công đoạn lâu dài, từ giới thiệu hàng hóa, tạo lòng tin, thiết lập quan hệ rồi mới thực hành thương lượng buôn bán.

Thứ tư, chú trọng vun đắp thương hiệu cho hàng. Giải pháp ưu việt nhất là cung cấp các hàng hóa canh tân có trị giá gia tăng cao, có căn do tốt hơn là chỉ thuần tuý cung cấp các nguyên liệu thô và chủng loại hàng rẻ tiền. Việc này sẽ giúp nâng tầm thương hiệu Việt Nam, vun đắp lòng tin đối với người dùng và đổi thay nhận thức về việc Việt Nam chỉ cung cấp các hàng hóa rẻ tiền mà người Australia thường quan điểm hàng rẻ tiền là hàng có có bảo hành lâu dài không tốt.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *